
Địa chỉ: Giáp Tây, châu An Châu, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Cháu đời sau là Lương Đích, vốn giữ chức Thủ khoán cũ, nay sao chép riêng một bản Phổ ý (ghi chép về dòng họ) lưu tại họ ta. Vị Phái trưởng phụng thờ các bậc Tiền hiền của tộc ta cùng Thủy tổ sinh hạ ra các chi phái. Thủy tổ vốn từ xã Trà Kiệu Tây, ấp Long Châu đến cư ngụ tại đây. Trải qua ba đời, công đức lớn lao, gia đình hưng thịnh, nhưng vì thời gian đã lâu nên không thể khảo cứu tường tận được. Nay nhân ngày lành, tôi xin sao chép lại bản Phổ ý chính, từ lúc khởi nghiệp cho đến chi phái ta.
Vị Thủy tổ từ Trà Kiệu đến đây khai khẩn, để lại công lao bất hủ, nay cần có văn bản rõ ràng để đời sau có cái mà khảo chứng.
Lời bạt kính cẩn: Hạnh đức của tiên nhân cần được lưu giữ để đời sau soi xét. Theo đó, tổ tiên ta vốn là người xã Khuông Phụ, huyện Gia Phước, thừa tuyên Hải Dương ngày xưa. Theo tập Phổ ý cũ ghi chép: Khi Tiên Chúa (Chúa Nguyễn) mở mang bờ cõi về phía Nam, đánh dẹp Chiêm Thành, các vị tôi tớ có chí khai quốc đã không quản ngại gian khổ, băng rừng lội suối, cùng với các vị công thần họ Đoàn, họ Phạm, họ Võ, họ Nguyễn đồng thời tinh anh tác chiến, chung tay gây dựng nên vùng đất này, chia ra các hướng Đông Tây Nam Bắc. Công đức ấy truyền lại cho con cháu thật vô cùng tốt đẹp.
Tuy nhiên, vì thời gian xa cách, nhân sự thay đổi, trong gia đình không còn nhiều tư liệu di lại, nên tôi phải đứng ra lập lại bản phái này. Bài vị của Thủy tổ và các tiên tổ hiện được nhập thờ tại nhà thờ Tiền hiền bản châu, cùng với nhà thờ Trưởng tộc, Trưởng phái tại xã Trà Kiệu. Tuy nhiên, việc từ đó sinh ra bảy chi phái như hiện nay thì vẫn chưa có văn bản nào ghi chép rõ ràng để khảo chứng.
E rằng sau này sử sách lưu lại khó lòng tìm được bằng chứng, trong họ lại có người không có người thừa tự hoặc mất tên tuổi thì lấy gì để truy tìm ngày giỗ chạp? Như thế là bỏ mất gốc rễ, quên đi nguồn cội, thật là điều đáng buồn cho đời sau. Nay tôi tiếp tục biên soạn và chú thích rõ ràng nơi sinh hạ, cho đến các thế hệ con cháu trong tộc ta để truyền về sau.
Thời gian: Ngày mồng 10 tháng Giêng năm Nhâm Thân, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 7 (1932). Trưởng chi Lương Đích kính cẩn sao chép.