ÔNG LƯƠNG VIẾT NGẠN (Lương Đích)
CON TRAI THỨ 1 CỦA ÔNG LƯƠNG VIẾT NGỮ (Ông Ngạn)
Họ và tên
LƯƠNG VIẾT NGẠN (Lương Đích)
Giới tính
Nam
Thuộc
Đời 12, là con thứ 1 trong gia đình
Tình trạng
Đã mất
Năm mất
Giỗ 4/12
An táng
THỨ
HỌ VÀ TÊN VỢ
NĂM SINH
TÌNH TRẠNG
1
 
Đã mất
THỨ
HỌ VÀ TÊN
NĂM SINH
TÌNH TRẠNG
1
 
Còn sống
2
 
Đã mất
3
 
Đã mất
5
 
Đã mất
6
 
Đã mất
7
 
Đã mất
8
 
Đã mất
9
 
Còn sống
13
 
Đã mất
14
 
Đã mất
Tiểu sử, Sự nghiệp, Ghi chú
Là người đã sao bản Phổ ý (Gia phả) chữ Hán Nôm vào năm "Bảo Đại thất niên" (1932), được lưu giữ tại nhà ông Lương Đốc, và tôi (Lương Văn Vui) đã nhờ thầy Quế (Duy An) dịch ra quốc ngữ (tháng 2/1990).

Lời mở đầu của "Hội Biên Phổ Ý" như sau:

Quảng Nam tỉnh, Duy Xuyên phủ, An Châu tây giáp, nhĩ tôn cựu thủ khoán Lương Đích sao biên biệt lập phổ ý nhất bổn tại ngô tộc, Phái trưởng ninh tự ngô tộc tiền hiền vị sứ tịnh ngô phái sinh hạ chi thủy tổ tính biệt cư tại Trà Kiệu Tây xã, Long Châu ấp, lịch tập tam đợi, phong công vĩ tích, thiên thạnh  gia trưng, bất khả tường khảo. Tư bổn nhật sao biên trưởng pháo phổ ý, tự triệu cơ dĩ hạ chí ngã phái.
Thủy tổ biệt Trà Kiệu lai tư dĩ thùy bất hủ chi công, thứ hữu minh văn khả khảo.
Kính bạt: Tiên nhơn thiệt hạnh, dĩ tồn nhã giám kỳ tựu viết ngã: Tiên nhơn, cổ chi Hải Dương thừa tuyên, Gia Phước huyện, Khuông Phụ xã nhơn giã, nguyên cựu phổ ý sở ký tùng ngã quốc... Tiên chúa ký khắc Chiêm Thành ư thị cát hoài thổ chi tư thần, khai quốc chi chí phi tiễn kinh lứt, cảm ngại bồng khao (cao) dữ Đoàn, Phạm, Võ, Nguyễn chư công đồng thời tinh tác liên đông tây nam bắc ngật nhĩ nhất châu kỳ sở duy thùy ngã vân, nhưng vô cương chi hưu dã, chí dĩ... Thuế viễn nhân viên, gia vô di loại, cố tự ngã bổn phái chi đài.
Thủy tổ tiên tổ bài vị dĩ chí nhập: Bổn châu tiền hiền, tinh trưởng tộc trưởng phái từ đường tại Trà Kiệu xã sinh hạ hiện kim thất chi tùng xuất chi do vị hữu minh văn khả khảo. Khủng hậu lai chi tồn sử kê cứu nan bằng, gia hữu tuyệt tự vô danh hà tùng truy kỵ, kỳ khử bổn vong nguyên đợt mạt đại hỷ. Tư tục biên minh chú, kỳ sở tùng sanh, dĩ chí ngô tộc sanh hạ cang thế đợi vân nhĩ.

Thời,
Tuế thứ Nhâm Thân Bảo Đại thất niên,
Chánh nguyệt sơ thập nhật
Chi trưởng Lương Đích phụng sao
Điệt ủy viên Lương... ký

Bản dịch của Gemini:

DỊCH NGHĨA: PHỔ Ý DÒNG HỌ LƯƠNG (1932)

Địa chỉ: Giáp Tây, châu An Châu, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Cháu đời sau là Lương Đích, vốn giữ chức Thủ khoán cũ, nay sao chép riêng một bản Phổ ý (ghi chép về dòng họ) lưu tại họ ta. Vị Phái trưởng phụng thờ các bậc Tiền hiền của tộc ta cùng Thủy tổ sinh hạ ra các chi phái. Thủy tổ vốn từ xã Trà Kiệu Tây, ấp Long Châu đến cư ngụ tại đây. Trải qua ba đời, công đức lớn lao, gia đình hưng thịnh, nhưng vì thời gian đã lâu nên không thể khảo cứu tường tận được. Nay nhân ngày lành, tôi xin sao chép lại bản Phổ ý chính, từ lúc khởi nghiệp cho đến chi phái ta.

Vị Thủy tổ từ Trà Kiệu đến đây khai khẩn, để lại công lao bất hủ, nay cần có văn bản rõ ràng để đời sau có cái mà khảo chứng.

Lời bạt kính cẩn: Hạnh đức của tiên nhân cần được lưu giữ để đời sau soi xét. Theo đó, tổ tiên ta vốn là người xã Khuông Phụ, huyện Gia Phước, thừa tuyên Hải Dương ngày xưa. Theo tập Phổ ý cũ ghi chép: Khi Tiên Chúa (Chúa Nguyễn) mở mang bờ cõi về phía Nam, đánh dẹp Chiêm Thành, các vị tôi tớ có chí khai quốc đã không quản ngại gian khổ, băng rừng lội suối, cùng với các vị công thần họ Đoàn, họ Phạm, họ Võ, họ Nguyễn đồng thời tinh anh tác chiến, chung tay gây dựng nên vùng đất này, chia ra các hướng Đông Tây Nam Bắc. Công đức ấy truyền lại cho con cháu thật vô cùng tốt đẹp.

Tuy nhiên, vì thời gian xa cách, nhân sự thay đổi, trong gia đình không còn nhiều tư liệu di lại, nên tôi phải đứng ra lập lại bản phái này. Bài vị của Thủy tổ và các tiên tổ hiện được nhập thờ tại nhà thờ Tiền hiền bản châu, cùng với nhà thờ Trưởng tộc, Trưởng phái tại xã Trà Kiệu. Tuy nhiên, việc từ đó sinh ra bảy chi phái như hiện nay thì vẫn chưa có văn bản nào ghi chép rõ ràng để khảo chứng.

E rằng sau này sử sách lưu lại khó lòng tìm được bằng chứng, trong họ lại có người không có người thừa tự hoặc mất tên tuổi thì lấy gì để truy tìm ngày giỗ chạp? Như thế là bỏ mất gốc rễ, quên đi nguồn cội, thật là điều đáng buồn cho đời sau. Nay tôi tiếp tục biên soạn và chú thích rõ ràng nơi sinh hạ, cho đến các thế hệ con cháu trong tộc ta để truyền về sau.

Thời gian: Ngày mồng 10 tháng Giêng năm Nhâm Thân, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 7 (1932). Trưởng chi Lương Đích kính cẩn sao chép.